Tôi là cá nhân kinh doanh tại Việt Nam, hiện đang thực
hiện hoạt động tiếp thị liên kết (Affiliate Marketing) cho các doanh nghiệp, tổ
chức ở nước ngoài thông qua môi trường Internet.1. Mô hình hoạt động thực tế
Tham gia các chương trình Affiliate/Partner Program
của các doanh nghiệp nước ngoài (trực tiếp hoặc thông qua các nền tảng như
Impact.com, PartnerStack.com, Rewardful.com, FirstPromoter.com...).
Sản phẩm quảng bá chủ yếu là phần mềm, SaaS, nền tảng
công nghệ và các dịch vụ số của nước ngoài.
Không mua sản phẩm để bán lại; không sở hữu sản
phẩm/dịch vụ; không trực tiếp bán hàng, ký hợp đồng bán hàng hay thu tiền từ
khách hàng cuối cùng (doanh nghiệp nước ngoài trực tiếp thực hiện việc này).
Các công việc thực hiện gồm: nghiên cứu sản phẩm và
thị trường; xây dựng website/landing page; nghiên cứu từ khóa; trực tiếp thiết
lập, quản lý, tối ưu chiến dịch quảng cáo Google Ads bằng vốn tự có và tự chịu
rủi ro (doanh nghiệp nước ngoài không hoàn trả chi phí này); điều hướng người
dùng thông qua affiliate/tracking link và theo dõi traffic, conversion.
Thu nhập nhận được là khoản hoa hồng (commission) dựa
trên kết quả chuyển đổi (CPA, CPS, CPL, Revenue Share...) do doanh nghiệp nước
ngoài hoặc đơn vị thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng, PayPal, Payoneer...
2. Vướng mắc cần được hướng dẫn
Qua nghiên cứu các quy định thuế hiện nay, việc phân
loại hoạt động nêu trên ảnh hưởng trực tiếp đến thuế suất thuế TNCN và nghĩa vụ
sử dụng hóa đơn điện tử. Do đó, tôi kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng
dẫn cụ thể 04 vấn đề sau:
Câu hỏi 1 – Phân loại hoạt động
Với mô hình thực tế nêu trên, thu nhập từ hoạt động
tiếp thị liên kết (Affiliate Marketing) được xác định thuộc nhóm hoạt động dịch
vụ/tiếp thị liên kết/hoa hồng đại lý, môi giới; hay hoạt động cung cấp dịch vụ
quảng cáo số; hay thuộc một nhóm hoạt động kinh doanh khác? (Trường hợp thuộc
nhóm khác, kính đề nghị nêu rõ căn cứ pháp lý áp dụng).
Câu hỏi 2 – Thuế suất thuế thu nhập cá nhân
Trên cơ sở phân loại tại Câu hỏi 1, thu nhập của cá
nhân từ hoạt động này thuộc mức thuế suất thuế TNCN nào? Cụ thể, đề nghị làm rõ
hoạt động này áp dụng tỷ lệ thuế TNCN 2% trên doanh thu (nhóm dịch vụ) hay tỷ
lệ thuế TNCN 5% trên doanh thu (nhóm cung cấp sản phẩm, dịch vụ nội dung thông
tin số, quảng cáo số) theo phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu.
Câu hỏi 3 – Xác định hoạt động “quảng cáo số”
Trong trường hợp cá nhân tự đầu tư ngân sách Google Ads,
tự thiết lập và quản lý chiến dịch quảng cáo, xây dựng website/landing page để
quảng bá sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp nước ngoài và nhận commission dựa
trên kết quả chuyển đổi, thì hoạt động này có được xác định là “quảng cáo số”
theo quy định pháp luật thuế hay không?
Nếu không, kính đề nghị hướng dẫn tiêu chí phân biệt
giữa (i) hoạt động tiếp thị liên kết/hoa hồng dịch vụ và (ii) hoạt động cung
cấp dịch vụ quảng cáo số khi cả hai đều thực hiện trên môi trường Internet.
Câu hỏi 4 – Nghĩa vụ hóa đơn điện tử theo Nghị định số
254/2026/NĐ-CP
Trường hợp được xác định là quảng cáo số và bên chi
trả thu nhập là tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài, cá nhân có thuộc trường hợp
không phải sử dụng hóa đơn điện tử theo Nghị định số 254/2026/NĐ-CP hay không?
Ngược lại, nếu được xác định là hoạt động dịch vụ/hoa
hồng và không phải quảng cáo số.
Tôi xin hỏi: Cá nhân có phải lập hóa đơn điện tử đối
với khoản commission nhận từ tổ chức nước ngoài hay không?
Thời điểm lập hóa đơn là khi phát sinh conversion, khi
commission được xác nhận hay khi thực tế nhận được thanh toán?
Người mua/người nhận dịch vụ ghi trên hóa đơn là doanh
nghiệp sở hữu chương trình Affiliate hay Affiliate Network thực hiện tổng hợp
và thanh toán commission? Trường hợp Affiliate Network chỉ cung cấp hệ thống
tracking còn doanh nghiệp nước ngoài trực tiếp thanh toán thì hóa đơn lập cho
chủ thể nào?
Việc được hướng dẫn cụ thể là cơ sở rất cần thiết để
cá nhân kinh doanh thực hiện đúng nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và sử dụng hóa đơn
điện tử đối với hoạt động kinh tế số xuyên biên giới.