THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính chào Tổng Cục Thuế, Tôi là người đại diện theo ủy quyền để nộp hồ sơ đề nghị miễn thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo Điều 62 Thông tư số 80/2021/TT-BTC cho cá nhân người nước ngoài. Tại điểm c, khoản 2 Điều 62 có quy định về thành phần hồ sơ: " … c.1.2) Bản gốc (hoặc bản sao đã được chứng thực) Giấy chứng nhận cư trú của nước cư trú do cơ quan thuế cấp ngay trước năm đề nghị miễn, giảm thuế theo Hiệp định thuế đã được hợp pháp hóa lãnh sự; c.1.3) Bản sao hợp đồng lao động hoặc bản sao giấy tờ pháp lý chứng minh nguồn gốc của khoản thu nhập hoặc quyền được nhận thừa kế, quà tặng (đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công hoặc thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng) hoặc bản sao hợp đồng kinh tế ký kết với các tổ chức cá nhân Việt Nam (đối với thu nhập từ kinh doanh) và cá nhân ký cam kết chịu trách nhiệm vào bản sao đó; c.1.4) Bản sao hộ chiếu sử dụng cho việc xuất nhập cảnh tại Việt Nam và cá nhân ký cam kết chịu trách nhiệm vào bản sao đó; …” Có thể thấy, điểm c.1.2 điểm c, khoản 2 Điều 62 Thông tư số 80/2021/TT-BTC đưa ra yêu cầu về tài liệu là “bản sao đã đã được chứng thực”, trong khi điểm c.1.3 và c.1.4 của khoản 2 Điều 62 Thông tư số 80/2021/TT-BTC chỉ đưa ra yêu cầu là “bản sao”. Tôi hiểu là “bản sao” được nhắc tới tại điểm c.1.3 và c.1.4 điểm c, khoản 2 Điều 62 Thông tư số 80/2021/TT-BTC chính là bản photocopy, mà không phải là bản sao đã được chứng thực. Xin Tổng Cục Thuế vui lòng cho biết cách hiểu của tôi về khái niệm bản sao tại điểm c.1.3 và c.1.4 điểm c, khoản 2 Điều 62 Thông tư số 80/2021/TT-BTC là chính xác hay không? Trân trọng cảm ơn!
11/01/2024
Trả lời:


Gửi phản hồi: